Thứ Ba, 11 tháng 9, 2007

Solomon - bước ngoặt trong chính sách của Australia

Ngoại trưỏng Australia Alexander Downer đến đảo Solomon (3/8). Đội quân đa quốc gia đã thu được thành công ban đầu trong việc lập lại trật tự trên đảo Solomon. Việc Australia dẫn đầu lực lượng này cho thấy Canberra bắt đầu cáng đáng vai trò anh cả tại khu vực Nam Thái Bình Dương một cách tích cực hơn.

Theo kết quả thăm dò do Newspoll tiến hành, công bố trên tờ The Australian, cứ 4 người được hỏi thì có 3 người ủng hộ quyết định gửi quân của Thủ tướng John Howard. Lực lượng gìn giữ hoà bình đã đến đây từ ngày 24/7. Trong tổng số 2.500 binh lính và cảnh sát tập trung ở thủ đô Honiara, quân của Australia đã chiếm khoảng 2/3. Số còn lại đến từ New Zealand và các đảo quốc ở Nam Thái Bình Dương: Papua New Guinea, Tonga và Fiji.

Bạo lực Solomon xuất phát từ căng thẳng đã có từ lâu giữa cộng đồng dân bản xứ Istabu trên hòn đảo chính Guadalcanal và những người Malaitan (đảo Malaita bên cạnh). Cả hai đều thuộc chủng tộc Melanesian, nhưng không có chung nền văn hoá hay ngôn ngữ. Có rất nhiều người Malaitan đến Guadalcanal để tìm việc, dần dần lấn át nền kinh tế ở đây, gây nên sự oán giận trong dân bản xứ. Bạo loạn bắt đầu nổ ra năm 1998, khi nhóm phiến quân Phong trào Tự do Istabu buộc người Malaitan rời đảo. Khoảng 20.000 người phải bỏ nhà ra đi. Tiếp đó, nhóm dân quân đối địch, Lực lượng Đại bàng Malaitan, hợp sức với nhiều cảnh sát, tiến hành đảo chính tháng 6/2000, khiến thủ tướng nước này phải từ chức.

Hiệp ước hoà bình Townsville, do Australia làm trung gian, được ký vào tháng 10/2000. Tuy nhiên, sau đó, Canberra từ chối hỗ trợ thêm và chính phủ Papua New Guinea phải tự lo liệu. Vì thế, bạo loạn và tham nhũng vẫn tiếp tục. Mối đe doạ lớn nhất là thủ lĩnh phiến quân Istabu có tên Harold Keke. Ông ta bị cáo buộc sát hại một bộ trưởng hồi năm ngoái và liên quan đến một loạt các vụ giết chóc khác ở Guadalcanal. Giao tranh làm cho nền kinh tế đất nước có 477.000 dân này gần như phá sản.

Trong thập kỷ qua, đã nhiều lần Canberra bị chỉ trích không can thiệp, khi gặp những trường hợp tương tự. Một ngoại lệ hiếm hoi là biến cố Bougainville ở Papua New Guinea (thuộc địa được trao trả độc lập vào năm 1975). Dân Bougainville gần về sắc tộc và văn hoá với người Solomon hơn Papua New Guinea (PNG) nhưng hòn đảo lại thuộc chủ quyền của PNG do hậu quả của của thời kỳ thực dân. Tiếp sau những tranh chấp xung quanh mỏ đồng lớn ở trên đảo, Bougainville đã sa vào khủng hoảng những năm 1980 và giao tranh nổ ra thập kỷ 1990. Giới quân sự Papua New Guinea sử dụng các trực thăng được Austrlalia viện trợ để nã súng vào dân chúng Bougainville. Năm 1997, chính phủ đảo quốc, dưới quyền thủ tướng Julius Chan, còn ký một thoả thuận trị giá 46 triệu USD với hãng chuyên cấp lính đánh thuê Sandline International, nhờ hãng này hỗ trợ lính và thiết bị quân sự sự chống phe ly khai Quân đội Cách mạng Bougainville (BRA). Thủ tướng John Howard sau đó đã buộc PNG phải hủy bỏ thoả thuận nói trên. Hiệp định hoà bình được ký năm 1998, chấm dứt 9 năm bạo lực. Lực lượng có nhiệm vụ giám sát hoà bình, gồm Australia, New Zealand, Vanuatu, Fiji, được lập ra và hoạt động khá hiệu quả.

Tuy nhiên, tiếp sau sự kiện Bougainville, Australia lại trơ mắt đứng nhìn Fiji trượt đến bên bờ vực năm 2000, khi xảy ra vụ đảo chính hụt và khủng hoảng hiến pháp.

Tình hình tại Solomon và các đảo quốc khác phản ánh một xu thế bất ổn đã trở nên quá quen thuộc ở khu vực Thái Bình Dương. Xung đột bộ lạc và sắc tộc nổ ra, sau khi chính quyền thực dân rời đi, để lại những khoảng trống được lấp bằng những bộ máy quản lý yếu kém.

Kể từ sự kiện 11/9 và vụ đánh bom Bali, Canberra bắt đầu xem xét lại chính sách ngoại giao của mình. Australia lo ngại đảo Solomon có thể bị biến thành nơi trú ẩn của khủng bố, những kẻ buôn ma tuý và rửa tiền. Họ cũng thu được bài học từ việc làm ngơ trước số phận của một hòn đảo nghèo khác ở Thái Bình Dương. Nauru - nước độc lập nhỏ nhất thế giới - bị Mỹ cáo buộc bán một số lượng lớn hộ chiếu giả và rửa hàng tỷ đôla cho các nhóm tội phạm quốc tế.

Australia hiện giờ đã chấm dứt cái mà Thủ tướng John Howard gọi là "khoanh tay đứng nhìn". Đây là lần triển khai quân lớn nhất của nước này ở khu vực Thái Bình Dương kể từ Thế chiến II. Các hoạt động quân sự chỉ là bước đi đầu tiên. Hợp tác còn có thể đưa tới việc các nước nhỏ ở vùng Nam Thái Bình Dương đóng góp chung các nguồn lực như ngân hàng và hàng không (đến nay vẫn bị giữ cẩn thận như là những biểu tượng quốc gia).

Liệu cách nghĩ mới của Thủ tướng Howard sẽ đưa tới những thay đổi gì trong chính sách của Canberra? Howard đã tận dụng được sự ủng hộ của dân chúng Australia sau cuộc chiến Iraq để có quyết định táo bạo nói trên. Nhưng ông cũng hiểu rằng chủ trương gửi quân ra nước ngoài để gìn giữ hoà bình có thể là một bước đi đầy mạo hiểm.

Không có nhận xét nào: